Người đan giỏ lùn cuối cùng

Buổi sáng tôi chạy chiếc xe đạp điện về quê. Cây cầu xi măng sát bên đình cao vổng lên, vừa lên tay ga, vừa hì hục đạp mới lên được dốc cầu thả xuống. Ngang qua nhà bà Ba Thời đan giỏ lùn, bà Ba ngồi trước nhà vót nan thấy tôi kêu ơi ới:
Mới về hả mợ Hai? Lâu quá mới thấy mợ!
Lại phải ngừng xe nói ba điều bốn chuyện:
Thì nghỉ hè mà! Bác Ba dạo này khỏe không? Công việc đan lát thế nào rồi?
Đáp lại câu hỏi vẫn là tiếng thở dài và cái lắc đầu quen thuộc:
Hụ hợ vậy mợ ơi! Giỏ lùn giờ ít người xài lắm. Tại không biết làm gì nên ráng giữ nghề vậy mà!
Vừa nói chuyện, bà Ba vừa liền tay chẻ lùn. Nhìn đôi tay thoăn thoắt chuốt từng nan lùn với con dao nhỏ bén ngót mới thấy sự lành nghề của người lao động mấy đời sống với nghề đan lát này. Còn nhó xóm này xưa là một xóm nghề rộn ràng chiếu lác, giỏ to, giỏ nhỏ tủa đi khắp nơi. Ghe xuồng tấp nập vào ra ăn hàng. Dân trong vùng ngoài miếng ruộng mảnh vườn cơ bản kiếm sống quanh năm còn tận dụng mấy miếng đất trước nhà, dưới mé rạch trồng thêm đám lác. Đến mùa thu hoạch, không cần đi đâu xa, chỉ bán cho mấy nhà dệt chiếu trong xóm là đủ có thêm một món tiền dành dụm, mua sắm chút đỉnh. Còn giỏ lùn thì cây lùn có khắp nơi, chỉ cần chịu khó đi xin mỗi nhà một ít, nhà nào nhiều đám lùn quá thì trả ít tiền gọi là “cho các cháu ăn bánh”, vậy thôi. Những đám lùn tốt đất, có khi cây cao hằng mấy thước, dành đan những giỏ lớn đựng gà vịt, cam bưởi mang ra chợ cho bạn hàng, những cây thấp hơn được chẻ thành nan nhỏ đan giỏ đựng trầu cho các bà già hay đựng đồ lặt vặt như kim chỉ, nút, kẹp cho các cô gái. Tuy ở thành phố, tôi vẫn nhớ lúc còn nhỏ, mấy bà mấy chị vẫn thường xách giỏ lùn đi chợ: cái giỏ dài dài, chừng bốn năm tấc, nhẹ bổng, có hai quai mảnh vẫn còn in trong ký ức, vậy mà đám con cháu tôi bây giờ đố có đứa nào biết đến cái giỏ lùn!
Có lần tôi hỏi bà Ba Thời:
Bây giờ ít ai xách giỏ lùn đi chợ, người ta xài giỏ ni lông là nhiều, vậy bà Ba đan giỏ cho ai?
Lại một nụ cười móm mém trên gương mặt đầy nếp nhăn:
Đem bỏ mối trên Sài Gòn! Mấy bà bán vịt, bán gà dùng giỏ lớn, mấy chị bán rau cải trong vườn ra cũng xài cho nhẹ tiền mà.
Rẻ lắm sao bà Ba?
Rẻ chớ sao không! Mợ tính, cái giỏ lớn lắm cũng chỉ bảy tám ngàn, giỏ nhỏ ba bốn ngàn, coi như cho không rồi…
Quả đúng là lấy công làm lời thiệt! Thử nhìn những cái mắt giỏ nhỏ xíu, tròn xoe như từng con mắt mở ra mà coi! Bao nhiêu mắt mới ra một chiếc giỏ đựng trầu cau mà giá chỉ ba ngàn, đủ tiền cho một ly cà phê đá ở miệt này. Chưa kể công phơi phóng, chẻ nan, vuốt nan. Từ những cây lùn xanh um lá, bà Ba phải tuốt hết lá, lấy cọng đem phơi ngoài sân. Nếu nắng tốt thì hai nắng là cây sẽ héo vàng có thể chẻ nan được. Rồi phải chuốt nan để chỉ lấy vỏ láng mặt ngoài, bỏ hết lớp ruột bên trong, có thế nan lùn mới đủ độ cứng, dẻo cho việc đan lát. Lá lùn bỏ ra có thể gói bánh ít hay gói nem vì càng ngày lá vông nem càng hiếm. Nhưng thường thì bà Ba chỉ đem cho hoặc bỏ ngoài vườn chứ chẳng bán được cho ai.
Ở quê chơi mấy ngày tôi lại thấy làng quê như có gì khang khác. Dường như cái không khí yên bình, lặng lẽ của cái xóm “vịnh Lở” ven rạch mỗi hè tôi về thăm lại đã rất nhiều đổi thay. Mấy đứa cháu cũng đang chộn rộn chuyện đất đai quy hoạch, chuyện bán đất lấy tiền ra chợ…
Mà chợ cũng chỉ cách đây hơn chục cây số chứ xa xôi gì! Có lẽ bây giờ những tính toán suy nghĩ của nhiều người dân nông thôn đã khác xưa. Cái cảnh “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” suốt bao nhiêu năm khiến họ muốn vươn ra khỏi vùng đất quê chăng? Hay giấc mộng một bước làm giàu đã huyễn hoặc những ước mơ của họ? Mấy đứa cháu còn cho biết:
Mấy tháng nay hai đứa con bà Ba ở thành phố cứ về xúi bà bán mấy công đất nhà còn lại mà bà không chịu. Mẹ con gây gổ ì xèo!
Nhưng còn con Út? Nó chưa gả chồng mà!
Vậy mới nói! Con Út cũng muốn ra chợ. Nó nói sẽ xin vào Cafatex làm công nhân bóc vỏ tôm.
Tôi thở ra. Tội nghiệp con bé, chắc nó tưởng làm công nhân khỏe hơn ở nhà làm rẫy. Mà con nhỏ xinh xắn thế kia, xinh nhất trong đám ba đứa con bà Ba. Nhưng xinh xắn thì có ích gì! Học hành dở dang, bạn bè không có, tối ngày chỉ đi cắt lùn, phơi lùn rồi nấu cơm, nấu cám heo… Bà Ba Thời có lần than phiền khi tôi ghé chơi:
Nó nhất định không học nghề đan giỏ. Nó nói thời buổi này mà còn đan lát gì, ai người ta cũng xài bọc ny lông, có ai còn xách giỏ đi chợ đâu!
Thì làm cỏ vườn, trồng rẫy, có ai còn xách giỏ đi chợ đâu!
Dễ gì mợ! Nó sợ hư tay! Nhà nghèo mà nó chỉ ngóng lên thôi. Mấy anh chị nó dạy hư con nhỏ đó.
Thật ra cũng chẳng phải vậy đâu. Từ khi vùng đất ruộng phía sau lưng khu xóm này nằm trong quy hoạch của cầu Cần Thơ và sẽ trở thành con đường quốc lộ, một số nhà được bồi thường để giải tỏa, một số khác tuy công trình xây dựng không động đến nhưng giá đất được nâng lên, mọi người ùn ùn bán đất cho các “đại gia” trong thành phố. Nắm món tiền lớn trong tay, thôi thì mặc sức ăn chơi, tưởng như thực sự “đổi đời”. Mọi nếp sống, sinh hoạt của miền quê yên tĩnh cứ nháo nhào cả lên, ai cũng tranh nhau chơi trội, vườn ruộng, rẫy bái gì không hề rớ tới. Nhưng đồng tiền đội nón ra đi rất nhanh, quay tới quay lui đã cạn vèo mà tay chân thì đã rã rời, mệt mỏi. Vậy là lại tiếp tục đem đất còn lại thế chấp để vay tiền… Cái vòng quay ấy cuối cùng dẫn đến bán đất ra thành phố làm thuê, làm mướn. Dù thế, bọn trẻ vẫn thích vậy hơn! Con Út của bà Ba chắc cũng cùng tâm trạng đó.
Buổi chiều, tôi ngồi nhìn ra mé rạch trước nhà. Con nước lớn đang đổ về tràn sông. Khoảnh đất trồng lác của mẹ tôi trước đây cỏ mọc cao lút đầu giờ chỉ còn một con đường nhỏ đi xuống bến đò để qua sông. Ngày mới giải phóng, rất nhiều người tản cư mấy chục năm ngoài chợ phấn khởi về quê, nơi có “mồ mả ông bà”. Cả xóm bừng bừng trồng rẫy, làm vườn, đan lát, tranh thủ từng tấc đất, khoảnh vườn để gieo trồng. Miếng đất chạy dài dưới mé rạch này tuy chẳng là bao nhưng lác mọc lên mịt mù, xanh tươi hứa hẹn những manh chiếu trắng ngà, bền chắc chất lên ghe chở đi các chợ. Nghe nói bây giờ các khung dệt gần như biến mất, họa chăng chỉ còn đâu đó một hai khung dệt thủ công trong gia đình. Bởi, những lũ cháu tôi cho biết “người ta dệt chiếu bằng máy cả rồi, vừa nhanh lại vừa đẹp, đủ màu sắc rực rỡ cả. Ai lại cặm cụi cả ngày vẫn chưa xong đôi chiếu dệt tay”… Đúng là mọi thứ đã công nghiệp hóa, cuộc sống nhiều bước phát triển đến chóng mặt. Có điều những chị dệt chiếu, đan lát ngày nào giờ đã đi về đâu, làm gì? Hay lại trở về với mảnh vườn nhỏ, với cái chuồng heo, với đám rau đám cải quen thuộc.
Một ông cậu họ nhà phía trong ngọn rạch có lần đã dẫn tôi vào chái nhà chất mấy cái bội “tuyệt tác” của ông.
Cháu coi, mấy cái này cậu giữ làm kỷ niệm đó!
Cậu tôi vốn là tay nhà nghề trong thú chơi chim và đan bội gà. Thời oanh liệt của cậu các tay chơi vô ra nườm nượp đặt bội, bội nhỏ để đem gà đi đá, bội lớn để nhốt gà ở nhà. Bội gà cậu tôi đan đẹp khéo như một tác phẩm nghệ thuật bởi trúc nhà cậu lựa kỹ, trúc già, cây to, cứng như thép, nan trúc chuốt thật tròn và thẳng lừ, có khi mấy ngày mới đan xong một cái bội. Nay cậu đã giải nghệ rồi vì:
Dân chơi bây giờ nó chỉ cốt ăn thua. Con gà cũng không biết lựa để chăm chút, tăng hưu, nói gì đến cái bội gà! Qua quít cho có cái để đựng là được!
Cậu còn phê phán cả cái cách đá gà, cứ chắp cựa sắt dài thượt vào, đá vài ba cái con gà đã dẫy đành đạch, còn gì là “nghề chơi”!
Chiều nay, đứng bên bờ rạch nhìn con nước chảy vào, sao tôi cứ bâng khuâng, ngậm ngùi. Những người như cậu Hai tôi, như bà Ba Thời và bao nhiêu người nữa ở đây, tôi còn gặp mặt, nói chuyện cùng họ mà sao cứ cảm thấy như họ sống ở một thời xa lắm, xa đến mịt mùng! Cảm giác giống như cái lần tôi dẫn khách du lịch vào cái xóm thúng ven sông trên kia, cách thành phố này vài chục cây số, nghe một bác gái nói:
Tôi ở xóm này từ nhỏ, nhà ba đời đan thúng mà mới chỉ biết có cái chợ trên lộ xe đây chứ chưa đi tới đâu!
Mà cái xóm thúng ấy phải đâu lèo tèo! Họ mua trúc tận Miệt Thứ, mua tre từ Đồng Nai và những thúng, sề, rổ rá họ làm ra được ghe hàng từ khắp nơi đến ăn hàng. Sản phẩm từ đôi tay những người lao động ấy túa đi khắp nước trong khi họ thì…
Gần hết hè, tôi vừa trở về thành phố thì mấy đứa cháu nhắn ra cho hay bà Ba Thời mất. Tôi lật đật đạp xe về quê. Nghĩa tử nghĩa tận mà, phải thắp nén nhang cho người cố cựu xóm này, người chị em một thuở của mẹ tôi chứ.
Đám ma bà Ba Thời đơn giản, gọn nhẹ, ít nghe tiếng khóc kể dù con cái dâu rể cháu chắt đủ mặt. Tôi xuống ghe đưa bà Ba đi hỏa táng, bụng vẫn không thôi thắc mắc: “vườn đất mấy công, sao phải thiêu?”. Về nhà, mấy đứa cháu mới “xì” ra:
Bà Ba mới nằm xuống, anh em nó đã kêu người bán đất chia nhau rồi. Hổm rày ông ta thậm thọt ra vô hoài, tại bà Ba không chịu thôi!
Ra là vậy. Tôi lấy chiếc giỏ lùn nhỏ để trên đầu tủ xuống mân mê, nhớ buổi chiều nào đó mới đây thôi, bà Ba Thời còn cười móm mém đưa chiếc giỏ cho tôi:
Tiền bạc gì mợ ơi, giữ làm kỷ niệm thôi mà! Mai mốt kiếm loại giỏ lùn không ra đâu nghe!
Không khóc mà sao sóng mũi tôi cứ cay cay. Chiếc giỏ xinh xắn như mở ra hàng trăm con mắt tròn xoe trong tay tôi. Bà Ba đã đan nó bao lâu? Bà nghĩ gì khi thắt từng sợi nan nhỏ bé, trơn láng để tạo hình, tạo vóc cho chiếc giỏ trầu của mấy bà cụ xưa này?
Sáng hôm sau tôi trở ra thành phố. Ngang qua nhà bà Ba Thời, cửa nhà đóng kín nhưng trên góc cột bên ngoài vẫn còn lủng lẳng một bó nan lùn đã chuốt. Mấy đứa con chắc bận bịu chuyện chia chác nên có để ý gì đến việc dọn dẹp căn nhà. Mà vài hôm nữa, khi chủ mới đến đây, căn nhà mái lá, vách ván của bà Ba chắc sẽ bị dỡ nhanh thôi mà. Vài năm nữa, đi ngang qua đây, có ai còn nhớ đến những chiếc giỏ lùn, nhớ đến người phụ nữ già nua cặm cụi róc từng chiếc lá, chuốt từng nan lùn, tẩn mẩn đang từng mắt, từng mắt giỏ nữa…
Cây cầu đình cao vổng hiện ra trước mắt, tôi cắn răng, lấy sức đạp xe qua để thả xuống con đường ra chợ. Trong tôi, dường như có chút gì đó đang vỡ vụn, rã rời…
Nguyễn Ngọc Tuyết – Kiến Thức Ngày Nay – 10.7.2007

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *